| 460 lần xem |

Cảm xạ Tâm linh (bài 1)

(CXH.VN) Sau trường phái Cảm xạ học vật lý, chủ trương đưa Cảm xạ học vào khoa học vật lý, với những luật lệ, công thức, định lý của các nhà cảm xạ học trước đệ nhị thế chiến, như René Lacroix à L’Henri, L. Chauméry và A. de Bélizal, H. Chrétien, L. Turenne… chúng ta sẽ nghiên cứu trường phái Cảm xạ học tâm linh, hòan tòan đối nghịch với trường phái trên do các nhà cảm xạ học mới đưa vào sau đệ nhị thế chiến, như A.Luzy, R. Blanc, J. Jurion, A. Le Prince, Heimme …. Lần lượt chúng tôi sẽ trình bày những yếu tố căn bản đặt nền móng cho Cảm xạ học tâm linh. Tuy nhiên với trình độ hiểu biết về Cảm xạ học của các bạn, để khỏi mất thì giờ và có thể bắt tay ngay vào các cuộc thí nghiệm, trong bài đầu này, chúng tôi đi ngay vào phương pháp thực hành của Cảm xạ học tâm linh. Phần cuối của trương trình 2 sẽ dung hòa cả 2 trường phái và trình bày những dụng cụ đặc biệt như Bát Quái và Kim Tự Tháp. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nghiên cứu chấn động trên hình cầu và giới thiệu quả lắc KHS-2.

PHƯƠNG PHÁP CẢM XẠ HỌC TÂM LINH
Cảm xạ học trước hết chỉ là kết quả của những khả năng của bản năng con người thời thượng cổ, đã bị suy yếu trước sự phát triển của trí thông minh. Nếu chỉ đi theo bản năng mà thôi thì ngày nay Cảm xạ học cũng không tiến xa hơn công việc đi tìm mạch nước.

Nhưng nếu trí thông minh đã đẩy lùi bản năng vào lãnh vực tiềm thức, thì cũng nhờ trí thông minh, vì bất lực trước nhiều vấn đề nan giải đã phải tìm cách khơi động tiềm thức, kích thích những khả năng huyền bí đã bị lãng quên, để giúp con người giải đáp nhiều vấn đề. Trí thông minh đã đưa lại những tác động tâm linh cao xa giúp cho con người hòan tòan bị công cuộc khai thác Cảm xạ học. Mục đích của những tác động ấy là đưa vào tâm linh của các nhà cảm xạ học những ý nghĩ để phát huy các ý nghĩ khác trong nội tâm và gây ra phản ứng cơ thần kinh hệ ngấm ngầm trong cánh tay để điều khiển quả lắc trên tay nhà cảm xạ học. Phương pháp họat động chính yếu của những tác động trên đây là “tự kỷ ám thị” , với một vai trò tối quan trọng trong Cảm xạ học. Vì tự kỷ ám thị vừa là 1 phương tiện phụ trợ cho Cảm xạ học vừa là 1 nguồn nhầm lẫn nguy hiểm như chúng ta đã thấy qua trình độ 1.

Tự kỷ ám thị là một sự khuyến dụ hay ám thị của chúng ta tự đưa lại cho chúng ta. Muốn có sự ám thị hay tự kỷ ám thị 1 ý kiến phải đổi ra 1 hành động.

Ý kiến phát sinh ra có thể từ ngọai cảnh nhập vào hay từ tâm xuất phát ra ngòai. Ý kiến từ ngọai cảnh có thể rất sâu đậm và tạo ra sự suy nghĩ, ý kiến từ nội tâm thường hời hợt, mâu thuẫn. Dù từ nguồn nào đến ý kiến cũng là căn bản của tự kỷ ám thị hay ám thị. Do đó tự kỷ ám thị có thể tự nhiên hay cố ý, khả năng của tự kỷ ám thị rất rộng rãi. Nó có thể ảnh hưởng trên cơ thể, trên những sinh họat cơ năng của con người, trên các giác quan, trí nhớ, ý chí. Nó có thể phát triển những tình cảm, thay đổi tính thình, sở thích, cảm giác… tự kỷ ám thị có thể triệt bỏ mọi cảm giác và đưa con người đến cõi chết.

Nhà cảm xạ học cần hiểu rõ lợi và hại của tự kỷ ám thị để khai thác triệt để, trước hết cảm xạ viên phải tập luyên tự kỷ ám thị để điều khiển theo ý muốn.

Lúc đầu tập luyên thì nên lựa giờ nào yên tĩnh nhất. Nếu như ban đêm thì phải sau những giờ làm việc vừa phải. Thể xác và trí óc không mệt mỏi quá, buổi sáng dậy sớm, bụng đói cũng là lúc tập tự kỷ ám thị.
Cần có sự im lặng ở ngọai cảnh, tránh những tiếng ồn ào thình lình, nhưng có thể chấp nhận những tiếng động đều hòa, buồn ngủ, muốn cho sự tự kỷ ám thị được hữu hiệu thì phải theo những điều kiện sau:
1. Chỉ chọn một ý kiến duy nhất.
2. Mỗi lần chỉ làm một tự kỷ ám thị chính mà thôi.
3. Nếu trí óc mệt mỏi thì tránh lập lại nhiều lần câu tự kỷ ám thị.

Như vậy bạn có thể tập tự kỷ ám thị phụ thuộc chung quanh ý chính để giúp cho việc phát triển ý chính và tránh lập lại một câu tự kỷ ám thị.

Nên nhớ là trước khi tự kỷ ám thị phải biết và thấy rõ cái gì mình muốn tìm, chứ không thể tưởng tượng hời hợt, mơ hồ được. Tự kỷ ám thị giúp cho nhà cảm xạ học bằng những lời nói, chuyển thể ý kiến, đưa vào tâm não để biến sang tác động tâm linh trong họat động Cảm xạ học.

Những tác động tâm linh ấy là:
1. Tác động căn bản để thiết lập liên hệ giữa những yếu tố đang được tìm kiếm.
2. Tác động làm cho trí óc nhạy cảm với vật thể tìm kiếm.
3. Tác động xuất phát tư tưởng đến tận vật thể mục tiêu.
4. Tác động phát giác và tuyển lựa vật thể tại trong tiềm thức.
5. Tác động tạo ý trong tiềm thức hay là phát sinh ra những phản ứng cơ thần kinh hệ vô thức nơi Cảm xạ viên, để chuyển động quả lắc hay đũa.

Như vậy nguyên tắc căn bản của Cảm xạ học là thiết lập liên hệ giữa Cảm xạ viên và những yếu tố muốn tìm kiếm. Những yếu tố ấy chính Cảm xạ viên vật thể mục tiêu tìm kiếm và chứng vật để giúp cho sự tìm kiếm.
Thiết lập liên hệ tâm linh, trong tác động thứ 1 đòi hỏi 4 sự phụ trợ tâm linh sau đây:

1. Trạng thái thụ động chờ đợi:
Cảm xạ viên phải biết dùng tự kỷ ám thị để đặt mình vào trong trạng thái thụ động chờ đợi. Lúc đầu thì hơi khó nhưng sẽ quen dần và sẽ thành thụ động.
Trạng thái thụ động chờ đợi là điều kiện tối cầ để chuẩn bị cho trí óc minh mẫn, sẵn sàng ghi nhận, tránh những tự kỷ ám thị có hại, nhờ sự cố ý tự kỷ ám thị của Cảm xạ viên dùng ý chí để lọai bỏ mọi tự kỷ ám thị ngọai nhập khác.
Trong trạng thái này Cảm xạ viên ghi nhận những gì liên hệ đến mục tiêu tìm kiếm và lọai bỏ mọi ý khác. Cảm xạ viên còn phải chống lại mọi ảnh hưởng tâm linh từ những người khác gửi tới. Nếu đã quen thuộc với sự tập trung và cố tâm chú ý rồi thì rất dễ đi tới trạng thái thụ động chờ đợi.

Cảm xạ viên phải tập ngồi thỏai mái, im lặng hòan tòan và nghĩ đến mục tiêu. Tất cả tư tưởng tập trung vào mục tiêu của công việc. Khi mà tâm trí trông thấy được mục tiêu và tất cả ngọai cảnh đều bị xóa mờ thì không nghe tiếng động bên ngòai nữa, tức là cảm xạ viên đã hòan thành mỹ mãn. Cảm xạ viên phải ngồi được ít nhất 5 phút trong trạng thái này. Lúc đầu thì ngột ngạt, khó thở, nóng nảy, nhưng lâu dần sẽ dễ.
Dù cho sau này bạn áp dụng phương pháp cảm xạ học tâm linh hay vật lý, sự tĩnh tọa trên đây cũng giảm bớt nhiều phần nhầm lẫn trong công việcCảm xạ học của bạn.
Khi tĩnh tọa được rồi là phải xúc tiến việc tìm kiếm chứ không nên kéo dài.

2. Hướng định tâm linh:
Bây giờ Cảm xạ viên phải hướng dẫn tâm não mình về mục tiêu vật thể tìm kiếm bằng cách biểu lộ ước vọng.

Sự biểu lộ ước vọng trong giai đọan hướng định tâm linh là một cách tự kỷ ám thị rất mạnh mẽ, phát triển mau chóng, gíup cho Cảm xạ viên nhạy cảm với sự hiên diện hay những chấn động của vật thể tìm kiếm và lọai bỏ tất cả mọi vật thể khác. Ngòai ra Cảm xạ viên cũng nhờ ấy mà lọai bỏ tất cả ảnh hưởng phá phách của những luồng ám thị và tự kỷ ám thị khác từ ngòai vào, đồng thời cũng triệt để giới hạn tiềm thức vào trong công việc chỉ định rõ rệt.
Sự biểu lộ ước vọng tuyệt đối không phải là một ý chí mong muốn. Nếu bạn muốn điều này hay điều nọ mà bạn không có phương tiện và khả năng đạt được ý muốn đó thì cũng vô ích. Do đó, ý muốn phải nhường chỗ cho một ước vọng và lời nói cũng như giọng nói phải thiết tha cầu khẩn hơn là ra lệnh. Câu nói phải vắn tắt, rõ ràng và lời nói đầy tin tưởng.

Bạn có thể nói thầm hay nói rõ và tùy theo bạn tin vào sự hiện diện hay những chấn động của vật thể, bạn sẽ nói 1 câu như:
“Tôi ước vọng được nhạy cảm với những chấn động của…”
hay “Tôi ước vọng được nhạy cảm với sự hiện diện của…”
Sự phân biệt trên đây rất quan trọng bởi vì kết quả là do sự tin tưởng. Bạn tin thế nào thì phải biểu lộ thế ấy.

3. Chất vấn tâm linh:
Sự biểu lộ ước vọng tạo thành tự kỷ ám thị chính, và tác động có thể tăng cường cho mạnh bằng những tự kỷ ám thị phụ trong lúc tìm kiếm, dưới hình thức những câu hỏi mà cảm xạ viên tự đặt cho mình, để chất vấn tiềm thức hầu kích thích sự phát giác câu trả lời.

Câu chất vấn bao giờ cũng phải theo sau sự biểu lộ ước vọng. Nếu đặt nó 1 mình thì cảm xạ viên dễ bị nhầm lẫn, và tiềm thức khó trả lời. Có thể tâm linh đóan trước câu trả lời và phần nhiều là đóan sai, để rồi Cảm xạ học tâm linh bước lần vào lãnh vực bói tóan.

Câu chất vấn phải rõ ràng, vắn tắt, và tiềm thức không chấp nhận những câu hỏi mơ hồ, nghi ngờ, không minh bạch. Nếu không hiểu rõ gía trị và kỹ thuật chất vấn, nếu không tin tưởng vào hiệu quả của sự chất vấn, không có ước vọng biết sự thật, không chú ý trong lúc chất vấn, thì cảm xạ viên sẽ nhận được câu trả lời sai lạc. Biết áp dụng 1 cách thông minh, thì câu trả lời luôn luôn đúng và đôi khi đưa đến những khám phá mới lạ.
Kỹ thuật chất vấn còn đưa đến những lọat câu hỏi liên tục, tiếp nối từ câu này sang câu khác, để giúp cho cảm xạ viên không mệt trí mà giải đóan rộng rãi 1 vấn đề. Thí dụ như trong khi tìm người thất lạc, cảm xạ viên sau khi biểu lộ ước vọng, đặt một lọat câu hỏi về vị trí , thời gian , thời hạn lưu trú , những vị trí có dấu vết người thất lạc đi qua …

4. Quy ước tâm linh:
Quy ước tâm linh là một thỏa hiệp mà cảm xạ viên tự đặt ra để nhận định vật thể tùy theo những sự vật có thật hay không có thật.

Nhiều quy ước có tính cách dị đoan, căn cứ trên những sự kiện vô lý và không có căn bản.

Đũa thì chỉ có 2 chuyển động: mũi chỉ lên hoặc chỉ xuống, quy ước thông thường mũi chỉ lên là “có thật – dương” và mũi chỉ xuống là “không có thật – âm”

Quả lắc có nhiều chuyển động hơn: lắc ngang, dọc hay xiên, quay thuận hay nghịch chiều kim đồng hồ. Chuyển động lắc chỉ một trạng thái chờ đợi hay một chiều hướng cần phải theo. Chuyển động lắc xiên chỉ 1 trạng thái nghi ngờ của một câu trả lời. Chuyển động quay thuận có nghĩa là dương hay có thật và quay nghịch có nghĩa là âm hay không có thật.

Một khi được chấp nhận thì quy ước phải không thay đổi. Quy ước tâm linh còn được ấn định cho những cử chỉ của cảm xạ viên trong lúc làm việc. Thí dụ bàn tay angten của cảm xạ viên đưa ra để thu nhận chấn động của vật thể, quy ước tâm linh cũng chế ngự việc sử dụng những chứng vật , là những phụ trợ rất hữu ích của cảm xạ viên.

Chứng vật là một mảnh của vật thể, càng giống vật thể chừng nào càng tốt chừng ấy, hoặc phải có liên hệ mật thiết với vật thể ta tìm kiếm, chứng vật có 4 lọai:
a. Chứng vật thiên nhiên: là những mẫu cùng tính chất với vật thể.
b. Chứng vật nhiễm xạ: là những vật dụng đã đụng chạm lâu ngày với vật thể ví dụ như áo quần, nhà cửa của người thất lạc.
c. Chứng vật giả tạo: là do cảm xạ viên tạo ra do không có sẵn 2 lọai chứng vật trên. Chứng vật giả tạo có hiệu lực là nhờ tự kỷ ám thị, thí dụ khi đi tìm một quyển sách bạn có thể ghi tên quyển sách ấy lên mảnh giấy để làm chứng vật.
d. Chứng vật hình ảnh: là lọai chứng vật phong phú nhất vì ghi nhận đầy đủ chấn động trong và ngòai vật thể, với chiếc ảnh bạn có thể có thể biết được bệnh trạng, vị trí trong hiện tại và quá khứ , những sự di chuyển, tình trạng sức khỏe … hình ảnh dù cũ lâu đời cũng vẫn ghi nhận đầy đủ tin tức.

Tốt nhất là ảnh thật, rồi đến ảnh in trên báo. Nên dùng ảnh đứng cả người để làm chứng vật.

Tags: ,